BlackBull
(4.8)
OANDA
(4.2)
Neex
(4.9)
HFM
(4.3)
Eightcap
(3.5)
Tickmill
(3.2)
Exness
(3.4)
Saxo Bank
(4.2)
Admirals
(2.8)
FOREX.com
(4.5)
eToro
(4)
FXCM
(3.4)

Việc Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Trump áp mức thuế 46% đối với toàn bộ hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam là một cú sốc lớn về thương mại. Đây là mức thuế “đối ứng” rất cao, được cho là nhằm đáp trả những quốc gia bị Mỹ coi là có rào cản thương mại cao nhất đối với hàng hóa Mỹ. Việt Nam nằm trong nhóm bị đánh thuế nặng nhất, vì Mỹ đánh giá Việt Nam áp dụng nhiều thuế quan và biện pháp phi thuế đối với hàng Mỹ, đồng thời Việt Nam cũng nằm trong danh sách theo dõi về thao túng tiền tệ của Bộ Tài chính Mỹ​. Mặc dù Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam đã nỗ lực vận động, giảm thuế nhập khẩu và cam kết mua thêm hàng hóa Mỹ nhằm tránh kịch bản xấu, mức thuế 46% vẫn được công bố. Sau đây là phân tích toàn diện về tác động của quyết định này đối với kinh tế Việt Nam.

Tác động đến tổng kim ngạch xuất khẩu

Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Năm 2024, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Mỹ đạt gần 119,6 tỷ USD, tăng hơn 23% so với năm trước​. Thị trường Mỹ chiếm khoảng 29% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Tính theo quy mô nền kinh tế, giá trị hàng hóa Việt Nam xuất sang Mỹ tương đương khoảng 30% GDP của Việt Nam​ – tỷ trọng cao nhất trong các đối tác thương mại hàng đầu của Mỹ. Điều này cho thấy kinh tế Việt Nam phụ thuộc lớn vào thị trường Mỹ, đặc biệt sau khi nhiều nhà đầu tư nước ngoài chuyển nhà máy từ Trung Quốc sang Việt Nam để tranh thủ chiến tranh thương mại Mỹ-Trung giai đoạn 2018-2019​.

“Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu Việt Nam quý I của năm 2023 và quý I 2024”

Với mức thuế nhập khẩu mới 46%, hàng Việt Nam sẽ trở nên kém cạnh tranh nghiêm trọng về giá tại thị trường Mỹ. Hậu quả trực tiếp là kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ có thể sụt giảm mạnh. Nếu giả định một phần lớn trong ~120 tỷ USD xuất khẩu sang Mỹ bị mất đi, tổng xuất khẩu của Việt Nam sẽ giảm tương ứng. Ví dụ, mất đi chỉ 50% thị phần tại Mỹ đã khiến Việt Nam hụt khoảng 60 tỷ USD, tương đương 15% tổng kim ngạch xuất khẩu (do tổng xuất khẩu năm 2024 khoảng 400 tỷ USD). Kịch bản xấu hơn (mất 70-80% thị phần) sẽ làm giảm 80-95 tỷ USD giá trị xuất khẩu. Điều này sẽ đảo chiều tăng trưởng xuất khẩu từ mức tăng hai con số sang suy giảm mạnh. Việt Nam có thể đánh mất vị trí top 10 đối tác thương mại của Mỹ (năm 2024 Việt Nam xếp thứ 8, chiếm 4,13% nhập khẩu của Mỹ)​

Dưới đây là một số ngành hàng xuất khẩu chủ lực sang Mỹ (2024) và mức độ phụ thuộc vào thị trường này:

Ngành hàng chủ lực Kim ngạch XK sang Mỹ 2024 (tỷ USD) Mức độ phụ thuộc thị trường Mỹ
Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện 23,2 Chiếm 19,4% tổng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ (FDI, công nghệ cao)
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng 22,05 Chiếm 18,4% tổng xuất khẩu sang Mỹ (FDI, công nghiệp phụ trợ)
Dệt may 16,1 Khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam đi Mỹ (đứng thứ 2 thị phần nhập khẩu quần áo vào Mỹ)
Đồ gỗ và sản phẩm gỗ ~9,1 Khoảng 56% tổng xuất khẩu ngành gỗ phụ thuộc thị trường Mỹ (Mỹ là thị trường số 1 của đồ gỗ VN)
Giày dép ~8,5 (ước tính) 36,5% kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam đi Mỹ (Mỹ là thị trường chủ lực của ngành)

Nhìn vào bảng trên, có thể thấy mức thuế 46% sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hơn một phần ba kim ngạch xuất khẩu của nhiều ngành. Điện tử, máy tính (23,2 tỷ USD năm 2024) và máy móc thiết bị (22,05 tỷ) vốn là các nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất sang Mỹ; tuy các doanh nghiệp FDI lĩnh vực này có thể phần nào linh hoạt hơn, nhưng ngắn hạn vẫn khó tìm thị trường thay thế quy mô tương đương Mỹ. Dệt may và da giày là nhóm truyền thống dễ bị tổn thương: Mỹ tiêu thụ khoảng 40% xuất khẩu dệt may36,5% giày dép của Việt Nam, nên đơn hàng có thể “lao dốc” đột ngột. Ngành gỗ nội thất thậm chí phụ thuộc trên 50% vào thị trường Mỹ, sau nhiều năm hưởng lợi do Mỹ áp thuế lên đồ gỗ Trung Quốc. Các ngành khác như thủy sản (tôm, cá tra…) cũng chịu tác động tiêu cực: Mỹ hiện là thị trường lớn thứ hai của tôm Việt Nam (sau Nhật Bản) với kim ngạch hàng trăm triệu USD mỗi năm​ , mức thuế mới sẽ khiến tôm, cá Việt khó cạnh tranh với đối thủ từ Ấn Độ, Ecuador, v.v.

Tổng hợp lại, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chắc chắn sẽ suy giảm mạnh dưới sức ép thuế 46%. Nền kinh tế vốn định hướng xuất khẩu sẽ mất đi một động lực tăng trưởng chủ chốt, tác động dây chuyền đến các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ liên quan.

Tác động đến GDP và tăng trưởng kinh tế

Xuất khẩu sụt giảm sẽ kéo theo suy giảm tăng trưởng GDP. Với kim ngạch sang Mỹ tương đương gần 30% GDP, việc mất thị trường này đồng nghĩa Việt Nam mất đi nguồn cầu tương đương hàng chục tỷ USD. Tăng trưởng GDP được dự báo sẽ bị cắt giảm đáng kể. Các chuyên gia nhận định nếu mức thuế cao duy trì lâu dài, các dự báo tăng trưởng cho Việt Nam sẽ bị điều chỉnh giảm xuống. Thậm chí, trong kịch bản xấu, Việt Nam có thể đối mặt nguy cơ tăng trưởng GDP thấp nhất nhiều năm, hoặc rơi vào suy thoái kỹ thuật nếu xuất khẩu đình trệ kéo dài.

“Việt Nam là đối tác thương mại chịu ảnh hưởng lớn nhất về giá trị xuất khẩu sang Mỹ so với GDP.”

Trước khi có thuế 46%, Việt Nam kỳ vọng tăng trưởng ~6-7%/năm nhờ xuất khẩu. Nay, tăng trưởng có thể giảm vài điểm % do đóng góp ròng từ xuất khẩu giảm mạnh. Chẳng hạn, nếu mất 60-80 tỷ USD xuất khẩu (15-20% GDP) trong một năm, GDP có thể giảm tương ứng vài phần trăm so với kịch bản không có thuế. Một số tổ chức có thể sẽ hạ xếp hạng triển vọng kinh tế Việt Nam vì rủi ro thương mại tăng cao. Niềm tin kinh doanh và đầu tư cũng suy giảm, thể hiện qua thị trường chứng khoán có thể lao dốc ở các mã cổ phiếu xuất khẩu chủ chốt ngay sau thông tin áp thuế. (Thực tế, tài sản của một số tỷ phú Việt Nam đã sụt giảm hàng nghìn tỷ VND chỉ trong vài ngày sau tuyên bố áp thuế của Mỹ​)

Ngoài ra, cán cân vĩ mô có thể bị ảnh hưởng: cán cân thương mại thâm hụt hoặc thu hẹp nhanh thặng dư, gây áp lực lên tỷ giá (VND có thể mất giá do xuất khẩu, dự trữ ngoại tệ giảm). Nhà nước có thể phải tính đến các gói kích thích kinh tế hoặc hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động mất việc, từ đó ảnh hưởng ngân sách. Tóm lại, cú sốc thuế quan này đặt ra thách thức lớn cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong ngắn và trung hạn.

Tác động đến thị trường lao động

Thị trường lao động Việt Nam sẽ chịu tác động nặng nề do phần lớn các ngành xuất khẩu đều sử dụng nhiều nhân công. Đầu tiên, các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ phải cắt giảm sản xuất do đơn hàng từ Mỹ sụt giảm, dẫn tới sa thải lao động hoặc giảm giờ làm. Những ngành như dệt may, da giày, điện tử, gỗ… có tổng cộng hàng triệu lao động.

“Người lao động tại nhà máy Pou Yuen trong ca làm việc.”

Chỉ riêng dệt may đã sử dụng khoảng 2 triệu lao động (chiếm 25% lao động ngành chế biến chế tạo) và da giày khoảng 1,4 triệu lao động ​– là hai ngành sử dụng lao động nhiều nhất cả nước. Phần lớn lao động trong các ngành này là lao động phổ thông, kỹ năng hạn chế và thu nhập không cao; do đó mất việc đột ngột sẽ khiến đời sống người lao động khó khăn.

Những biểu hiện cụ thể có thể gồm: nhiều nhà máy dệt may, giày dép đóng cửa một phần dây chuyền, công nhân tạm nghỉ việc luân phiên. Một số doanh nghiệp có thể cho công nhân nghỉ không lương hoặc cắt giảm phúc lợi để duy trì hoạt động. Thu nhập của người lao động giảm sút mạnh do ít tăng ca, tiền thưởng bị cắt. Tỷ lệ thất nghiệp ở các khu công nghiệp dệt may, da giày, chế biến gỗ có thể tăng đột biến. Đặc biệt tại các địa phương tập trung nhiều nhà máy xuất khẩu (như Bình Dương, Đồng Nai, Hải Phòng, Bắc Ninh, TP.HCM…), thị trường lao động địa phương sẽ bị xáo trộn: lao động mất việc tìm về quê hoặc chuyển sang lao động tự do tạm thời.

Hiệu ứng lan tỏa cũng đáng lo ngại. Lao động thất nghiệp hoặc giảm thu nhập sẽ giảm chi tiêu tiêu dùng, ảnh hưởng tới các ngành dịch vụ, bán lẻ trong nước. Đồng thời, mâu thuẫn lao động có thể nảy sinh khi công nhân mất việc đòi hỏi quyền lợi, đền bù; đòi hỏi các chính sách hỗ trợ từ chính quyền (bảo hiểm thất nghiệp, đào tạo lại). Tóm lại, cú sốc thuế 46% sẽ khiến thị trường lao động Việt Nam đối mặt với thách thức nghiêm trọng về việc làm và thu nhập trong các ngành xuất khẩu chủ chốt.

Tác động đến chuỗi cung ứng và đầu tư nước ngoài (FDI)

Việt Nam những năm qua đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, thu hút nhiều tập đoàn đa quốc gia xây dựng nhà máy sản xuất hướng đến xuất khẩu. Các tên tuổi lớn như Samsung, Foxconn, Apple, Intel, Nike… đã đầu tư sản xuất tại Việt Nam, nhiều sản phẩm dành cho thị trường Mỹ.

“Nhân viên làm việc tại nhà máy sản xuất giày xuất khẩu ở Hà Nội, Việt Nam, ngày 29/12/2020.”

Việc Mỹ áp thuế cao đột ngột sẽ gây gián đoạn chuỗi cung ứng này ở cả đầu vào lẫn đầu ra. Cụ thể:

  • Các công ty FDI xuất khẩu sẽ phải điều chỉnh chiến lược. Những nhà máy tại Việt Nam chủ yếu để xuất hàng sang Mỹ (ví dụ sản xuất giày thể thao cho Nike, điện thoại/sản phẩm điện tử cho Apple, Samsung) sẽ đối mặt với mức thuế mới làm đội chi phí. Ngắn hạn, một số công ty có thể giảm công suất, tạm dừng đầu tư mở rộng. Trung hạn, họ có thể xem xét di dời một phần dây chuyền sang nước khác chưa bị áp thuế (chẳng hạn sang các nước ASEAN khác, Ấn Độ hoặc trở lại Trung Quốc nếu thuế tại đó thấp hơn). Như Reuters nhận định, dòng vốn FDI từng ồ ạt chảy vào Việt Nam nhờ lợi thế thương chiến Mỹ-Trung giờ đây có thể chững lại hoặc đảo chiều do rủi ro thuế quan mới​.
  • Chuỗi cung ứng linh kiện cũng bị ảnh hưởng. Nhiều nhà máy tại Việt Nam nhập linh kiện từ các nước (Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan) về lắp ráp rồi xuất đi Mỹ. Khi đầu ra gặp khó, nhu cầu nhập linh kiện sẽ giảm, tác động ngược lại các nhà cung cấp trong khu vực. Ví dụ, một cơ sở lắp ráp điện tử ở Việt Nam giảm sản lượng nghĩa là các nhà máy linh kiện tại Thái Lan, Hàn Quốc… cũng mất đơn hàng. Sự liên kết khu vực hình thành quanh vai trò của Việt Nam sẽ suy yếu.
  • Đầu tư mới vào sản xuất định hướng xuất khẩu có thể bị trì hoãn hoặc hủy bỏ. Các nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng, từng cân nhắc Việt Nam như trung tâm sản xuất cho thị trường Mỹ, sẽ thận trọng hơn. Họ lo ngại tính bền vững của chính sách thương mại Mỹ, do đó có thể chuyển hướng sang nước khác ít bị nhắm tới hơn. Chẳng hạn, nếu không có thuế, Việt Nam hấp dẫn nhờ chi phí thấp và ưu đãi, nhưng với thuế 46%, lợi thế chi phí bị xóa sổ, buộc nhà đầu tư tìm phương án khác (như Indonesia, Bangladesh, Mexico, v.v.).
  • Chuỗi cung ứng trong nước: Nhiều doanh nghiệp Việt Nam tham gia cung ứng nguyên phụ liệu, dịch vụ logistics cho các công ty xuất khẩu cũng sẽ bị vạ lây. Khi sản xuất đình trệ, các nhà cung cấp nội địa mất đơn hàng, kho bãi giảm công suất, vận tải giảm sản lượng. Hiệu ứng này lan rộng từ khu chế xuất đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ hỗ trợ.

Tuy nhiên, trong dài hạn, áp lực này cũng thúc đẩy một số chuyển biến: Việt Nam có thể buộc phải nâng cao giá trị trong chuỗi cung ứng, thay vì tập trung khâu lắp ráp giá trị thấp. Các doanh nghiệp FDI có thể điều chỉnh để đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào Mỹ, giúp chuỗi cung ứng bớt rủi ro. Dù vậy, nhìn chung, cú sốc 46% thuế sẽ làm lung lay vị thế của Việt Nam trong mạng lưới sản xuất toàn cầu, ít nhất trong ngắn hạn, và ảnh hưởng tiêu cực đến dòng vốn FDI cũng như hoạt động của các chuỗi cung ứng liên quan Việt Nam.

Phản ứng của doanh nghiệp Việt Nam và khả năng chuyển hướng thị trường

Trước thách thức thuế quan chưa từng có, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chắc chắn sẽ phải nhanh chóng tìm cách thích ứng. Một số phản ứng và chiến lược đang và sẽ được các doanh nghiệp thực hiện gồm:

Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu

Đây là hướng đi sống còn. Doanh nghiệp sẽ tìm cách chuyển hướng một phần hàng xuất khẩu sang các thị trường khác ngoài Mỹ. Chẳng hạn, các công ty dệt may, da giày có thể đẩy mạnh khai thác thị trường EU (đã có FTA EVFTA, thuế nhiều mặt hàng về 0%), Nhật Bản, Hàn Quốc (các FTA khác) hoặc thị trường mới nổi như Trung Đông, Nam Mỹ, châu Phi​. Tuy nhiên, việc thâm nhập thị trường mới không dễ dàng do quy mô và nhu cầu các thị trường đó có hạn, và yêu cầu tiêu chuẩn có thể khác biệt. Dù vậy, đa dạng hóa là cách để giảm thiểu phụ thuộc vào Mỹ, tránh “bỏ trứng một giỏ”.

Cắt giảm chi phí, chấp nhận lợi nhuận thấp

Trong ngắn hạn, để giữ khách hàng Mỹ, một số doanh nghiệp có thể chịu giảm giá bán (đồng nghĩa giảm lợi nhuận) nhằm bù vào thuế, giữ chân đối tác. Ví dụ, một số công ty gỗ cho biết sẵn sàng hy sinh lợi nhuận, tăng chi phí marketing để giữ đơn hàng và tìm thị trường mới​. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng đủ nguồn lực làm điều này lâu dài, và việc giảm giá quá nhiều có thể không bền vững.

Điều chỉnh sản xuất, lách xuất xứ

Một số doanh nghiệp có thể tìm cách điều chỉnh chuỗi sản xuất để lách thuế. Ví dụ: đưa một phần công đoạn cuối (hoàn thiện sản phẩm) sang nước thứ ba để sản phẩm mang xuất xứ khác (tránh xuất xứ “Made in Vietnam”). Tuy nhiên, cách này rủi ro cao và có thể vi phạm quy tắc xuất xứ nếu làm không khéo, dẫn tới bị trừng phạt nặng hơn. Chính phủ Việt Nam đã và đang cảnh báo doanh nghiệp về việc giả mạo xuất xứ vì có thể bị Mỹ điều tra.

Vận động chính sách và pháp lý

Doanh nghiệp thông qua các hiệp hội ngành hàng đang kiến nghị Chính phủ tìm giải pháp đối thoại với phía Mỹ. Chẳng hạn, Hiệp hội gỗ đề xuất Việt Nam giảm một số thuế nhập khẩu đối với hàng Mỹ như động thái thiện chí, tránh bị trả đũa​. Các hiệp hội cũng có thể tư vấn Nhà nước đưa vụ việc ra các diễn đàn đa phương (như WTO) để giải quyết tranh chấp, mặc dù quá trình này lâu dài và không đảm bảo thành công dưới sức ép song phương từ Mỹ.

Tái cơ cấu thị trường nội địa

Một số doanh nghiệp có thể quay về thị trường nội địa để tiêu thụ sản phẩm nhiều hơn, nhất là với mặt hàng như nội thất, may mặc. Tuy nhiên, sức mua trong nước có hạn và thị hiếu khác xuất khẩu, nên đây chỉ là giải pháp bổ trợ.

Nhìn chung, khả năng chuyển hướng thị trường trong ngắn hạn của doanh nghiệp Việt Nam là hạn chế do mức độ phụ thuộc vào Mỹ quá lớn. Việc thay thế thị trường Mỹ đòi hỏi thời gian nhiều năm. Trước mắt, doanh nghiệp sẽ cố gắng giảm thiểu thiệt hại bằng các biện pháp tình thế như trên. Về dài hạn, cú sốc này cũng là bài học để doanh nghiệp đa dạng hóa từ trước, nâng cao sức cạnh tranh cốt lõi (chất lượng, thương hiệu) để không bị phụ thuộc duy nhất vào ưu đãi thuế. Sự chủ động thích ứng và hỗ trợ từ Nhà nước sẽ quyết định bao nhiêu doanh nghiệp có thể trụ vững hoặc tìm cơ hội mới trong bối cảnh bất lợi này.

Đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất

Trong bối cảnh trên, tất cả các thành phần từ doanh nghiệp đến người lao động và nhà đầu tư đều chịu thiệt hại, nhưng mức độ khác nhau:

  • Người lao động có lẽ là nhóm dễ tổn thương nhất. Hàng triệu công nhân mất việc hoặc giảm thu nhập sẽ trực tiếp chịu ảnh hưởng đến đời sống. Đây chủ yếu là lao động kỹ năng thấp, thu nhập vốn đã ở mức trung bình-thấp; khi mất việc, họ không có nhiều dự phòng tài chính. Ngoài ra, chuyển đổi nghề cho lượng lớn lao động trong ngắn hạn là rất khó, dẫn đến thất nghiệp tạm thời cao. Người lao động do đó chịu gánh nặng kinh tế (chi tiêu sinh hoạt, gia đình) và tâm lý (lo âu về tương lai việc làm).
  • Doanh nghiệp xuất khẩu là nhóm chịu thiệt hại rõ ràng. Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước sẽ rất khó khăn vì ít vốn và phụ thuộc một vài thị trường: nhiều khả năng phá sản hoặc ngừng hoạt động nếu mất hẳn đơn hàng Mỹ. Doanh nghiệp FDI tuy có nguồn lực hơn nhưng cũng chịu cú sốc doanh thu, phải tái cơ cấu tốn kém. Những doanh nghiệp nào nợ ngân hàng cao sẽ đứng trước nguy cơ vỡ nợ do doanh thu sụt giảm đột ngột. Nhìn chung, giới doanh nghiệp đối mặt với suy giảm lợi nhuận nghiêm trọng, thậm chí lỗ lớn trong năm đầu áp thuế.
  • Nhà đầu tư gồm cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài (FDI) đã rót vốn vào Việt Nam để xuất khẩu sẽ thấy hiệu suất đầu tư giảm, kế hoạch thu hồi vốn kéo dài, một số có thể rút vốn hoặc chuyển vốn sang quốc gia khác. Nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán cũng chịu thiệt khi cổ phiếu các công ty xuất khẩu rớt giá mạnh. Giá trị tài sản của cổ đông, nhà đầu tư sụt giảm (ví dụ cổ phiếu ngành dệt may, thủy sản giảm giá mạnh như từng xảy ra khi Mỹ dọa áp thuế trước đây).
  • Chính phủ và nền kinh tế vĩ mô (dù không được hỏi trực tiếp, nhưng gián tiếp cũng là “nạn nhân”): Thu ngân sách từ thuế xuất nhập khẩu và thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ giảm. Chính phủ phải chi thêm hỗ trợ an sinh xã hội cho người mất việc, hoặc các gói kích thích kinh tế, tạo áp lực ngân sách. Cán cân thanh toán xấu đi có thể ảnh hưởng ổn định kinh tế vĩ mô.

Tổng kết lại, người lao động và doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam là hai đối tượng gánh chịu nhiều đau thương nhất từ quyết định áp thuế 46% của Mỹ. Người lao động mất sinh kế; doanh nghiệp mất thị trường, thua lỗ; nhà đầu tư mất lợi nhuận. Mức độ ảnh hưởng cụ thể tùy thuộc vào khả năng thích ứng của từng đối tượng, nhưng nhìn chung thiệt hại là rất lớn và tức thì.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần có những phản ứng chính sách kịp thời để hỗ trợ các nhóm bị ảnh hưởng và làm việc với phía Mỹ nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực. Cú sốc thuế quan 46% này là thách thức chưa từng có đối với nền kinh tế định hướng xuất khẩu của Việt Nam, đòi hỏi nỗ lực chung tay từ Chính phủ, doanh nghiệp đến người lao động để vượt qua giai đoạn khó khăn.

1 bình luận về “Tác động toàn diện khi Mỹ áp thuế 46% lên hàng xuất khẩu Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *